PDA

View Full Version : Giúp em về đàn Bầu.



sokotan
07-11-2009, 05:29 AM
Em có ý định học đàn bầu mà không biết nên học ở đâu thì tốt, chi phí thế nào, chất lượng ra sao, thời gian là bao giờ... và một điều tối quan trọng là mua đàn bầu chất lượng ở đâu. Em chưa có tý tẹo kiến thức âm nhạc nào.
Hồi còn bé tẹo teo, em thích cây đàn bầu lắm lắm, chỉ được xem trên cái tivi đen trắng và thỉnh thoảng được nghe trên radio. Em mê lắm lắm cho nên không biết bao nhiêu lần em đi chặt tre, trúc rồi tự mày mò làm thành hộp khung đàn và dùng dây cước làm sợi đàn... Em muốn học nó, chơi với nó nhưng không có điều kiện và cũng không ai bảo có thể đi học ở đâu nên vẫn chả biết gì cho đến bây giờ.
Ai có thông tin gì thì làm ơn chỉ giúp em nhé. Em thực sự rất muốn đi học để có thể chơi được một bản nhạc như em mơ ước trước đây .
Em đang sống ở Hà Nội.

tuan6s0
07-11-2009, 02:24 PM
Em có ý định học đàn bầu mà không biết nên học ở đâu thì tốt, chi phí thế nào, chất lượng ra sao, thời gian là bao giờ... và một điều tối quan trọng là mua đàn bầu chất lượng ở đâu. Em chưa có tý tẹo kiến thức âm nhạc nào.
Hồi còn bé tẹo teo, em thích cây đàn bầu lắm lắm, chỉ được xem trên cái tivi đen trắng và thỉnh thoảng được nghe trên radio. Em mê lắm lắm cho nên không biết bao nhiêu lần em đi chặt tre, trúc rồi tự mày mò làm thành hộp khung đàn và dùng dây cước làm sợi đàn... Em muốn học nó, chơi với nó nhưng không có điều kiện và cũng không ai bảo có thể đi học ở đâu nên vẫn chả biết gì cho đến bây giờ.
Ai có thông tin gì thì làm ơn chỉ giúp em nhé. Em thực sự rất muốn đi học để có thể chơi được một bản nhạc như em mơ ước trước đây .
Em đang sống ở Hà Nội.
bạn ui học trên này nè tui day cho bạn nè hihihi
4rum này có bác quang tuấn đấy. Xin mạn phép bác kuangtuan tí nhé

Đàn bầu ai gảy nấy nghe
Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu

Câu ca dao trên chúng ta thường được nghe truyền tụng trong dân gian, đã phần nào nói lên được sức quyến rũ của cây đàn này.
Vâng, thật là tuyệt diệu, chỉ với 1 sợi dây thép căng dài trên mặt đàn, 1 đầu dây cột dưới đàn, 1 đầu dây cột vào cần đàn, trên cần có nửa trái bầu, thế rồi chỉ với một cây que ngắn trong bàn tay mặt, khảy vào một số điểm trên dây, người nghệ sĩ tạo ra vô vàn âm thanh quyến rũ:

Một dây nũng nịu đủ lời
Nửa bầu chứa cả đất trời âm thanh

Cũng như hầu hết các nhạc khí khác của Việt Nam, đàn bầu không biết do ai sáng chế, và xuất hiện từ thời kỳ nào. Dựa vào chuyện kể của GS Trần Văn Khê, thầy nói rằng trong 1 bài tham luận về đàn bầu nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khóat, đọc tại Bulgary nhân dịp Liên Hoan Âm Nhạc Dân Gian, nhạc sĩ kể lại rằng:

Tương truyền ngày xưa có 1 người tên là Trương Viên cùng các trai tráng phải lên đường chống giặc. Trước khi đi, Trương Viên dặn vợ, nếu chẳng may loạn lạc khắp nơi, thì hãy dẫn mẹ trở về quê lánh nạn. Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt, vợ Trương Viên phải dắt mẹ trở về quê, trên đường đi vất vả, cực khổ, nhiều khi nàng phải nhịn đói để nhường cơm cho mẹ. Một buổi sáng kia, khi đi ngang qua 1 làng nọ, bỗng nhiên người trong làng đổ xô ra niềm nở chào đón, lại còn đãi mẹ con 1 bữa cơm thịnh soạn. Hai mẹ con nhìn nhau ngơ ngác, không hiểu chuyện gì đang xảy ra nữa. Đợi cho hai người ăn xong, 1 bô lão trong làng mới nói lý do. Đó là mỗi năm làng phải tế cho hung thần cặp mắt của một người phụ nữ. Không muốn người trong làng bị móc mắt, làng bèn đạt ra lệ rằng mỗi năm đúng ngày giờ này, người phụ nữ nào đạt chân vào làng trước thì sẽ được đãi một bữa ăn thịnh soạn, sau đó thì bị xin cặp mắt. Nay bà lão đặt chân vô trước, vậy xin cặp mắt của bà lão. Nghe vậy, vợ Trương Viên òa khóc, rồi quỳ xin được hiến cặp mắt của mình thay cho mẹ. Dân làng bằng lòng, thế là họ móc cặp mắt nàng.

Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo đó, Tiên trên trời bèn hiện ra và cho nàng cây đàn 1 dây, dặn rằng: "Cây đàn này sẽ giúp con nuôi được mẹ và sau này gia đình con sẽ được đoàn tụ." Nàng nhận đàn, lạy tạ Bà Tiên. Từ đó hai mẹ con dắt nhau đi đàn ca để kiếm tiền độ nhật.

Chiến tranh chấm dứt, Trương Viên trở về nhà thì không thấy mẹ và vợ đâu cả. Hỏi thăm mọi người thì cũng không ai biết. Đoán là hai người đã về quê, Trương Viên vội vã đi kiếm. Trên đường đi, anh cũng đi ngang cái làng có hung thần, hỏi thăm thì mọi người thuật lại hiếu thảo của nàng dâu, nhưn họ không biết sau đó hai mẹ con đi đâu nữa. Trương Viên buồn bã, đành lang thang đi tìm khắp nơi. Bỗng một hôm khi ngang qua một cái chợ nhỏ, Trương Viên nghe thấy tiếng đàn rất lạ, rồi lại thấy một đám đông đứng chen chúc nhau, hình như họ đang bị quyến rũ bởi tiếng đàn đó. Hiếu kỳ, Trương Viên lách vào coi, thì giật mình nhận ra vợ mình đang đàn 1 cây đàn lạ, còn mẹ đang ngồi ngã nón xin tiền. Trương Viên mừng rỡ, ôm chầm lấy mẹ và vợ, cả ba người khóc như mưa. Riêng người vợ thì bao nhiêu nhớ nhung, khốn khổ vất vả, lạ còn bị đui mù nữa khiến nàng tủi thân, tức khóc mãi, khóc mãi, khóc mãi đến khô hết nước mắt, rồi thì máu mắt chảy ra. Lạ thay khi dòng máu bắt đầu chảy cặp mắt nàng trở lại như xưa.

Mặc dầu đạy chỉ là một truyền thuyết, nhưng khi một nhạc khí mà đã có được một truyền thuyết lưu truyền rộng rãi trong dân gian như thế đủ chứng tỏ rằng nhạc khí đó được yêu thích biết bao nhiêu.

Vì đàn bầu xuất phát từ dân gian, nên ít được nhắc đến trong sách sử. Phải đợi tới thời Vua Thành Thái, đàn bầu mới được thay thế đàn tam trong ngũ tuyệt tranh-tỳ-nhị-nguyệt và bầu. Tuy vây, trong sách Kiến Văn Tiểu Lục, Lê Quí Đôn có ghi lại rằng sứ nhà Nguyên khi sang nước Việt có nói đã thấy cây đàn 1 dây tại nước Việt.

Nói về cây đàn 1 dây, thì không phải chỉ nước ta mới có. Theo tài liệu của GS Trần Văn Khê, thì tại Châu Á, có nhiều cây đàn 1 dây:

Trung Quốc có đàn Ixian qin (nhất huyền cầm) đàn 1 dây tơ, khảy bằng các ngón tay mặt, tay trái chặn dây tai nhiều chỗ. Độ cao của các âm tùy theo sự dài ngắn của sợi dây mà tay trái chặn.

Nhật Bản có đàn Ichigenkin, nhứt huyền cầm, cũng 1 dây tơ (xem hình phía dưới), mà tay khảy bằng móng đeo vào mấy ngón tay của tay mặt, tay trái cầm 1 miếng ngà chặn dây và vuốt trên dây.

Campuchia co đàn Sadev, 1 dây căng trên 1 cần đàn giữa 2 trục. Cần đàn có 1 bầu gắn vào 1 đầu của đàn, bầu áp vào người. Khảy đàn bằng ngón tay áp út của tay mặt, tay trái nhấn trên dyâ ở nhiều điểm khác nhau.

Ấn Độ có đàn Gopi Yantra (xem hình bên tay mặt), 1 dây căng giữa, 1 đầu tre và 1 miếng da có 2 thanh tre cặp 2 bên. Tay mặt khảy dây, tay trái bóp 2 thanh tre làm cho mặt da dùng, thằng, làm phát ra những âm thanh có độ cao khác nhau. Độ cao nhứt là khi mặt da để thẳng. Chủ yếu phụ họa theo những bài ca của những người hành khất trong dân tộc Peul của Ấn Độ.

Châu Phi có rất nhiều đàn 1 dây mà luôn luôn có cung kéo, cung không có bả cung (mèche) mà cung làm bằng 1 que cây rừng trụi lá có thoa chất làm cho thân rí và cạ vào dây.

Cổ Hy Lạp có đàn 1 dây, không dùng để đàn mà để làm tiêu chuẩn định thang âm (Pythagore)

Ngay tại Việt Nam chúng ta cũng có cái trống quân 1 dây.

Qua những đàn 1 dây kể trên, chúng ta nhận thấy rằng nghệ ĩ đều tạo âm thanh bằng cách thay đổi độ căng-chùng hoặc dài ngắn của sợi dây, mà không dùng kỹ thuật tạo âm bội như của đàn bầu, vì thế chúng ta có thể khẳng định rằng đàn bầu chính là nhạc khí độc đáo của dân tộc ta.

Ôi! Đàn bầu quê tôi! Đàn bầu quê tôi!
Nửa bầu mà rót hoài không cạn
Một dây thôi – nói biết bao lời
Cung thương tha thiết chơi vơi
Cung trầm sâu lắng…rạng ngời tình quê.

tuan6s0
07-11-2009, 02:27 PM
Phân loại

Đàn thân tre thuờng dùng cho người hát xẩm hoặc những nơi khó khăn, không có điều kiện chế tác tỷ mỷ, chi tiết. Thân đàn làm bằng một đoạn tre hoặc bương dài khoảng 120 cm, đường kính 12 cm. Mặt đàn là chỗ đã được lóc đi một phần cật thích hợp trên đoạn tre hoặc bương. Loại này ít phổ biến.

Đàn hộp gỗ là loại đàn cải tiến, có tính năng ưu việt hơn, thường do các nghệ sĩ chuyên nghiệp sử dụng. Đàn hộp gỗ có nhiều hình dáng, kích thước khác nhau, thường làm bằng loại gỗ nhẹ, xốp như gỗ ngô đồng... Loại đàn bằng gỗ vông được dùng phổ biến nhất.
Cấu tạo

Đàn bầu thường có hình dạng một ống tròn (bằng tre, bương, luồng) hoặc hình hộp chữ nhật (bằng gỗ); một đầu to, một đầu vuốt nhỏ hơn một chút; thường có chiều dài khoảng 110 cm, đường kính hoặc bề ngang ở đầu to khoảng 12,5 cm, đầu nhỏ khoảng 9,5 cm; cao khoảng 10,5 cm. Ở loại đàn gỗ Mặt đàn và đáy đàn bằng gỗ ngô đồng, hoặc gỗ thông hay gỗ tung. Mặt đàn hơi cong lên một chút, đáy đàn phẳng có một lỗ nhỏ để treo đàn, một hình chữ nhật ở giữa để thoát âm đồng thời cầm đàn khi di chuyển và một khoảng trống để cột dây đàn. Thành đàn bằng gỗ cứng như cẩm lai hoặc mun để cho chắc chắn và có thể bắt vít cho khóa dây đàn.

Trên mặt đầu to có một miếng xương hoặc kim loại nhỏ gọi là ngựa đàn. Qua ngựa đàn, dây đàn được luồn xuống và cột vào trục lên dây đàn xuyên qua thành đàn, trục này được làm đẹp và nó được giấu phía sau thành đàn. Ngày nay người ta dùng khóa dây đàn bằng kim loại cho chắc để chống tuột dây đàn. Trên mặt đầu nhỏ của đàn có một cần dây làm bằng gỗ hoặc sừng, được gọi là cần đàn hoặc vòi đàn. Cần đàn xuyên qua nửa đầu trái bầu khô hoặc tiện bằng gỗ theo hình dạng tương tự và cắm vào một lỗ trên mặt đầu nhỏ của vỏ đàn. Một đầu dây đàn buộc cố định vào cần đàn khoảng giữa bầu đàn.[2]

Khi công nghệ điện tử ra đời, để tăng âm lượng tiếng đàn, người ta lắp một cuộn cảm ứng điện từ có lõi sắt non vào dưới mặt đàn giáp với dây ở phía đầu to để cảm ứng âm thanh truyền qua bộ dây đồng tục, đưa tín hiệu đến khuếch đại âm thanh qua máy tăng âm. Loại đàn này chỉ có thể dùng dây thép và có nhược điểm là độ méo âm thanh khá lớn so với âm thanh của loại đàn không dùng bộ khuếch đại điện từ (đàn mộc).

Que gảy đàn: thường được vót bằng tre, giang, thân dừa, gỗ mềm... Người ta hay làm bông hoặc tưa đầu nhọn một chút để làm mềm âm thanh khi gảy. Ngày xưa hay dùng que dài khoảng 10cm, ngày nay với nhiều kỹ thuật diễn tấu nhanh nên người ta hay dùng que ngắn chừng 4-4,5 cm.

tuan6s0
07-11-2009, 02:29 PM
Tính năng, tác dụng

Đàn bầu có âm vực rộng tới 3 quãng tám. Vì là âm bội nên âm sắc đẹp, sâu lắng, quyến rũ. Tiếng đàn có khi buồn bã, thiết tha, có khi ngọt ngào tình tự, diễn tốt tình cảm của con người. Âm thanh phát ra trong vòng 2 quãng tám nghe khá rõ ràng dù là âm bội. Nếu sử dụng âm thực với sự tác động kéo căng hay giảm dây của vòi đàn, âm vực của đàn bầu có thể vượt trên 3 quãng tám.[3]

Đàn bầu phù hợp với những giai điệu trữ tình, êm dịu, tuy nhiên những nghệ nhân xẩm có thể sử dụng nó để diễn những bài hát vui như xẩm xoan hoặc những ca khúc mới, giàu chất tươi tắn và khỏe mạnh. Ca dao Việt Nam có câu "Đàn bầu ai gãy nấy nghe, làm thân con gái chớ nghe đàn bầu" ý nói tiếng đàn dễ dàng thu hút được tình cảm người nghe.

Trước đây đàn bầu giữ nhiệm vụ độc tấu hoặc đệm hát, tham gia những ban nhạc cổ truyền cùng với đàn nguyệt, đàn tam, nhị hay tỳ bà... ngày nay một số cây được gắn thiết bị điện, tăng âm nên có thể độc tấu ngoài trời hoặc hòa tấu với dàn nhạc lớn, nhiều nhạc cụ.

Nhiều nghệ nhân tài năng đã dùng tiếng đàn bầu mô phổng giọng nói của cả ba miền Nam, miền Trung, miền Bắc và giọng nam, giọng nữ hoặc ngân nga như ngâm...
Cách thức sử dụng cơ bản
Cách định âm chuẩn cho dây đàn
Mô tả xác định điểm chia nốt trên dây đàn bầu

Người ta thường định âm cho đàn bầu theo dây buông có âm tự nhiên, nhưng có khi chỉnh theo từng bài bản. Nếu bài nhạc cung đô (do) là chủ âm thì định âm dây buông tự nhiên là đô. Ngoài ra còn vài cách định âm khác. Vì dây buông chỉ cho một nối nên phải chia dây từ cần đàn đến ngựa đàn để xác định các nốt khác: 1/2 dây có nốt do 1 cao hơn dây buông một quãng 8, 1/3 dây sẽ là nốt sol 1, 1/4 ta sẽ có nốt do 2, 1/5 dây sẽ có mi 2, 1/6 dây sẽ có nốt sol 2, 1/7 dây sẽ là nốt si giáng (nốt này ít được sử dụng), 1/8 sẽ có nốt do 3.

Ngoài 6 điểm định âm thông dụng là do 1, sol 1, do 2, mi 2, sol 2 và do 3 còn có thể tạo âm thực bằng cách gảy dây buông và thường gảy gần ngựa đàn chứ không gảy vào các điểm định âm bồi. Trên 7 âm thanh này, với kỹ thuật tay trái như căng dây hoặc chùng dây thích hợp, người chơi đàn có thể tạo được rất nhiều âm thanh khác.
Cách sử que gảy đàn

Cách sử dụng/gảy đàn đòi hỏi kỹ thuật đặc biệt. Người diễn cầm que bằng tay phải, đặt que trong lòng bàn tay phải, đặt que trong lòng bàn tay làm sao để que hơi chếch so với chiều ngang dây đàn. Que đàn được đặt trên 2 đốt ngón tay trỏ và giữa của bàn tay phải, còn đốt thứ nhất của ngón cái thì giữ que đàn, đầu nhỏ của que thường nhô ra khoảng 1,5 cm. Hai ngón còn lại thì hơi cong theo ngón trỏ và giữa. Khi gảy dây ta đặt cạnh bàn tay vào điểm phát ra bội âm, hất nhẹ que đàn cùng lúc nhấc bàn tay lên, ta sẽ có được âm bội. Những điểm cạnh bàn tay chạm vào gọi là điểm nút, những điểm trên dây đàn được que gảy vào gọi là điểm gảy. Do đàn bầu không có phím nên những điểm nút được coi là cung phím của đàn bầu.
Các tư thế diễn tấu

Thông thường nhất là đàn bầu đặt trên một cái bàn nhỏ (thường là hộp đàn có lắp 4 chân rời, trên mặt giá có 2 chỗ chặn để khi kéo dây, đàn khôn gbị di chuyển theo). Khi ngồi khoanh chân trên chiếu để đàn thì đầu gối chân mặt phải tì vào cạnh mặt đàn nhằm giữ cho cây đàn khỏi bị xê dịch. Ngày nay, các nghệ sĩ cũng dùng cả tư thế đứng để diễn tấu.
Sử dụng tay trái trên cần đàn và dây đàn

Ngón rung: Khi khảy dây, các ngón tay trái rung nhẹ cần đàn, âm thanh sẽ phát ra tự như làn sóng thì ta có ngón rung. Ngón rung rất quan trọng vì không những nó làm cho tiếng đàn mềm mại mà nó còn thể hiện phong cách của bản nhạc. Với các bài buồn, hoặc bài vui, ta phải rung theo những âm đã được qui định.

Ngón vỗ: Vỗ ngón cái, vỗ ngón trỏ tạo ra âm thanh hãm và thăng giáng liên tục, dao động âm tắt nhanh. Theo nghệ sĩ ưu tú Thanh Tâm thì ngón vỗ thường diễn tả tình cảm đau khổ, uất ức, nghẹn ngào.

Ngón vuốt: miết ngón tay vào cần đàn để cao độ trượt qua các âm và dừng lại ở âm qui định.

Ngón luyến: kéo thẳng cần lên hoặc xuống tới âm qui định

Ngón tạo tiếng chuông: Nhấn cườm tay vào dây đàn để hãm bớt âm chính và tạo ra âm bội trên âm chính có sẵn. v.v

tuan6s0
07-11-2009, 02:31 PM
Sự phát triển của đàn bầu trong đời sống âm nhạc dân tộc

Trong lịch sử nhạc cụ Việt Nam chưa có nhạc khí dân tộc nào của nước ta được thay đổi, cải biến nhiều như đàn bầu.

Cần đàn thay vì bằng tre thì nay bằng sừng để cho mềm dễ uốn hơn.

Bầu đàn trước đây làm bằng vỏ bầu khô, nay dùng sừng hoặc thông dụng nhất là tiện bằng gỗ để có thể bắt vít được.

Que đàn từ chỗ dài khoảng 10cm, nay thu ngắn ngắn khoảng 4cm. Từ chỗ được vót bằng tre, giang; nay có thêm các chất liệu gỗ, dừa, sừng hoặc nhựa.

Theo nhạc sĩ Bùi Lẫm: vào thập kỷ 60, nghệ sĩ Mạnh Thắng là người sáng chế ra lối que gẩy ngắn, ông cũng là người đã cải tiến đưa phần khuếch đại âm thanh vào đàn bầu, và ông cũng là người đầu tiên đưa đàn bầu đi trình diễn quốc tế, mang giải thưởng cao quí cho Việt Nam. Sau đó, cũng với que gẩy ngắn này, nghệ sĩ ưu tú Đức Nhuận đã phát minh ra lối kỹ thuật vê (teremono) trên 1 dây và đánh sử dụng bồi âm trên bồi âm.

Thân đàn và các phụ kiện Loại đàn cũ cần có thân to, mặt mỏng để tăng độ âm vang. Khóa đàn bằng gỗ. Loại đàn hiệ đại sử dụng công nghệ khuếch đại âm thanh điên tử có kích thước nhỏ hơn, khóa đàn bằng kim loại. Điểm cái tiến táo bạo nhất mà không một nhạc khí nào dám làm là loại đàn bầu dùng công nghệ điện tử có thể tách đôi, gập lại, xếp gọn khi di chuyển. Khi trình tấu, người chơi đàn có thể lắp ráp lại nhanh chóng.

Hộp chứa đàn Ngoài chức năng để cất giữ, bảo vẹn đàn khi di chuyển đàn, hộp này vừa có hể dùng làm giá đỡ đàn với hai chốt chặn ở hai đầu, tiện lợi cho việc căng dây hoặc chùng dây khi chơi các bản nhạc có âm chủ khác nhau.
Đàn bầu trong nghệ thuật

* Ca dao: Đàn bầu ai gẩy nấy nghe / Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu. Theo nghệ sĩ Hoàng Anh: "ông bà mình ngày xưa khuyên con gái chớ nên nghe đàn bầu vì sợ tiếng đàn réo rắt, buồn bã dễ vận vào đời người phụ nữ"[4].
* Thơ: Đất nước tôi, thon thả giọt đàn bầu / Nghe nặng nỗi đau của mẹ / Ba lần tiễn con đi / Hai lần khóc thầm lặng lẽ (thơ Tạ Hữu Yên, sau nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn phổ nhạc thành bài hát Đất nước).
* Bài hát: Tiếng đàn bầu của ta / Cung thanh là tiếng mẹ / Cung trầm là giọng cha (bài hát Tiếng đàn bầu, nhạc Nguyễn Đình Phúc, lời thơ Lữ Giang)[5].

tuan6s0
07-11-2009, 02:33 PM
* Mô tả đàn bầu: Đàn bầu là loại đàn hình hộp chữ nhật, 1 đầu to, 1 đầu nhỏ hơn 1 chút, thường dài khoảng 110cm, bề ngang khoảng 12.5cm, đầu nhỏ khoảng 9.5cm, cao khoảng 10.5cm. Mặt đàn và đáy đàn bằng gỗ ngô đồng, hoặc gỗ thông hay gỗ tung. Mặt đàn hơi cong lên 1 chút, đáy đàn phẳng có 1 lỗ nhỏ để treo đàn, 1 hình chữ nhật ở giữa để cầm đàn,và 1 khoảng trống để cột dây đàn. Thành đàn bằng gỗ cứng như cẩm lai, hoặc mun để cho chắc chắn và vò thể cẩn ốc được. Trên thành đàn phía tay mặt người khảy đàn có 1 miếng xương hoặc kim loại nhỏ gọi là ngựa đàn, qua ngựa đàn, sợi dây thép dầy khoảng 40mm được luồn xuống và cột vào cái trục xuyên qua thành đàn gọi là cái trục lên dây đàn, trục này đẹp vì nó được dấu phía sau thành đàn, nhưng rất dễ tuột dâym vì vậy ngày nay người ta dùng khóa sắt cho chắc hơn. Về phía tay trái người đàn, có 1 cần dây đan còn gọi là vòi đàn trên đó gắn nửa trái bầu khô hoặc tiện bằng gỗ, 1 đầu dây đàn cột vào cần khoảng giữa bầu đàn. Ngoài ra, để tăng âm lượng tiếng đàn, người ta lắp mobin điện vào dưới mặt đàn, đồng thời phải khoét 1 lỗ cắm dây zắc dẫn tín hiệu rung của dây vào bộ phận tăng âm. Chính vì xài điện nên dây đàn phải dùng dây bằng thép thay vì bằng inox.
Minh Thanh dan bau

* Cách cột dây đàn: Cột dây đàn bầu tương đối khó nên chúng ta xem qua cách cột dây 1 chút.
* Que khảy đàn: Đây là một bộphận quan trọng dể khảy đàn bầu, Que thường được vót bằng tre, bằn ggiang, bằng thân dừa, gỗ mềm mại hơn, người ta hay làm bông boặc tưa đầu nhọn 1 chút. Ngày xưa hay dùng que dài khoảng 10cm, ngày nay với nhiều kỹ thuật diễn tấu nhanh nên người ta hay dùng que ngắn chừng 4-4.5cm.
* Các tư thế diễn tấu: Thông thường nhất là đàn bầu đặt trên 1 cái bàn nhỏ (thường là hộp đàn có lắp 4 chân rời, trên mặt giá có 2 chỗ chặn để khi kéo dây, đàn khôn gbị di chuyển theo).
Khi ngồi khoanh chân trên chiếu để đàn thì đầu gối chân mặt phải tì vào cạnh mặt đàn nhằm giữ cho cây đàn khỏi bị xê dịch.
Cũng có thể đứng đàn, nhưng không đẹp và cây đàn không được vững bằng cách ngồi.
* Cách cầm que đàn: Que đàn được đặt trên 2 đốt ngón tay trỏ và giữa của bàn tay mặt, còn đốt thứ 1 của ngón cái thì giữ que đàn, đầu nhỏ của que thường nhô ra khoảng 1.5cm. Hai ngón còn lại thì hơi cong theo ngón trỏ và giữa. Khi khảy dây ta đặt cạnh bàn tay vào điểm phát ra bội âm, hất nhẹ que đàn cùng llúc nhấc bàn tay lên, ta sẽ có được âm bội.
* Cách xác định điểm trên đàn: Nếu gọi dây buông là nốt C thì nếu chia dây từ cần đàn đến ngựa đàn:
1/2 dây có nốt C1 cao hơn dây buông 1 quãng 8
1/3 dây sẽ là nốt G1
1/4 ta sẽ có nốt C2
1/5 dây sẽ có E2
1/6 dây sẽ có nốt G2
1/7 dây sẽ là nốt Bb. Nhưng nốt này ít được sử dụng.
1/8 sẽ có nốt C3
Tóm lại, sáu điểm trên đàn la C1 – G1 – C2 – E2 – G2 – C3 là 6 diểm thông dụng nhất. Ngoài ra ta có âm thực tức là khảy dây buông, thường khảy gần ngựa đàn chứ không khảy vào các điểm đã ghi.
Bây giờ, trên 7 âm thanh này, nếu vài kỹ thuật tay trái như căng dây hoặc chùng dây, ta sẽ tạo được rất nhiều âm thanh khác nữa.

IchigenkinNếu chỉ dừng lại ở chỗ tạo ra những âm thanh rời rạc thì đàn bầu chẳng thể làm cho ta mê mẩn hay xúc động được. Vậy đàn bầu hay ở chỗ nào?

Chúng ta cũng thấy rằng chính những kỹ thuật của tay trái đã nuôi dưỡng và làm đẹp âm thanh, cho âm thanh một hơi thở, một sinh khí, một cái hồn. Những kỹ thuật đó là gi? Xin chúng ta cùng tìm hiểu.

trở về

Cách đặt tay trái trên cần đàn:

* Ngón rung: Khi khảy dây, các ngón tay trái rung nhẹ cần đàn, âm thanh sẽ phát ra tự như làn sóng thì ta có ngón rung. Ngón rung rất quan trọng vì không những nó làm cho tiếng đàn mềm mại mà nó còn thể hiệnphong cách của bản nhạc. Với các bài buồn, hoặc bài vui, ta phải rung theo những âm đã được qui định.
* Ngón vỗ: Vỗ ngón cái, vỗ nón trỏ. Theo nghệ sĩ ưu tú Thanh Tâm thì ngón vỗ thường diễn tả tình cảm đau khổ, uát ức, nghẹn ngào.
* Ngón vuốt: miết ngón tay vào cần đàn để cao độ trượt qua các âm và dừng lại ở âm qui định.
* Ngón luyến: kéo thẳng cần lên hoặc xuống tới âm qui định
* Ngón tạo tiếng chuông: Nón tạo âm bội trên âm bội có sẵn. v.v.


Đàn bầu trong đời sống âm nhạc dân tộc

Có thể nói chưa có nhạc khí dân tộc nào của nước ta được thay đổi, cải biến nhiều như đàn bầu. Xin mời chúng ta xem thử.

* Cần đàn thay vì bằng tre thì nay bằng sừng trâu để cho mềm dễ kéo hơn.
Bầu đàn thay vì bằng vỏ bầu khô, người ta dùng sừng trâu, hoặc thông dụng nhất là tiện bằng gỗ để có thể cẩn ốc được.
* Que đàn: Ngày xưa que đàn dài khoảng 10cm, nay có que ngắn khoảng 4cm. Que thường được chuốt bằng tre, giang, nay có thêm bằng gỗ, bằng dừa, hoặc bằng sừng trâu, nhưng sừng trâu dở nhất vì nó quá trơn.
Theo nhạc sĩ Bùi Lẫm, thì vào thập kỷ 60, nghệ sĩ Mạnh Thắng là người sáng chế ra lối que gẩy ngắn, ông cũng là người đã cải tiến đưa phần khuếch đại âm thanh vào đàn bầu, và ông cũng là người đầu tiên đưa đàn bầu đi trình diễn quốc tế, mang giải thưởng cao quí cho Việt Nam.Dan bau
Sau đó thì cũng với que gẩy ngắn này, nghệ sĩ ưu tú Đức Nhuận đã phát minh ra lối kỹ thuật vê trên 1 dây đánh bồi âm trên bồi âm.
* Thân đàn: Ngày trước không dùng điện nên thân đàn to mặt đàn mỏng, khóa đàn bằng gỗ, ngày nay xử dụng mobine nên đàn thường nhỏ hơn, khóa đàn bằng sắt, gắn mobine trong đàn, khoét lỡ cắm dây zắc, và diểm táo bạo nhất mà không một nhạc khí nào dám làm, đó là cưa đôi đàn ra, xếp lại cho gọn, chừng nào đàn thì kéo thẳng ra.
* Hộp đàn: Ngoài cái hộp thông thường dể đựng đàn, còn có loại hộp vừa để đựng đàn, vừa để làm cái bàn, rất tiện lợi và gọn gàng. Như chúng ta đã biết, đàn bầu luôn phải căng dây và chùng dây, vì vậy rất cần phải có 2 chỗ chặn 2 đầu cho đàn khỏi bị xê dịch.

tuan6s0
07-11-2009, 02:43 PM
NGUYÊN LÝ CỦA TAY GẨY

Nếu đem so sánh điểm gẩy của ĐÀN BẦU với điểm gẩy của các nhạc khí khác ta sẽ thấy:

ĐÀN BẦU có nhiều điểm gẩy hơn, mỗi điểm gẩy là một cao đọ BỒI ÂM vang lên chuẩn xác. Còn các nhạc khí khác chỉ có một điểm gẩy ở phần gần cầu dây mà thôi, và âm thanh phát ra không phải là ÂM BỒI.

Khi gẩy ĐÀN BẦU ta cần phải kết hợp đồng thời hai nguyên lý là "CHẠM TRƯỚC GẨY SAU".

GẨY QUE VÀO DÂY ĐÀN

· GẨY LÀ GÌ?
GẨY LÀ GÌ?

Gẩy là que gẩy tác động vào dây đàn để tạo ra tiếng kêu của dây. Có nhiều điểm gẩy đồng thời kèm theo sau mỗi điểm gẩy là một điểm CHẠM tay (hay điểm ĐIỂM NÚT trên dây).

Mỗi điểm chạm gẩy được ghi ký hiệu bằng chữ số LA MÃ theo số thứ tự từ I đến VII.

CÁC ĐIỂM CHẠM GẨY TRÊN DÂY ĐÀN

Điểm chạm gẩy 1 ghi số: I

Điểm chạm gẩy 2 ghi số: II

Điểm chạm gẩy 3 ghi số: II

Điểm chạm gẩy 4 ghi số: IV

Điểm chạm gẩy 5 ghi số: V

Điểm chạm gẩy 6 ghi số: VI

Điểm chạm gẩy 7 ghi số: VII

Nếu ta lấy điểm chạm gẩy thứ nhất (I) là điểm gẩy phát ra ÂM BỒI thấp nhất của dây đàn là nốt DO1 ta sẽ có những quãng cách nhau của mỗi đểm gẩycó cao độ như sau

C. CÁCH GẨY ĐÀN BẦU

Trong phần nầy chúng tôi quy định lại cách đánh dấu điểm gẩy trên mặt đàn mà xưa nay theo lối gẩy dân gian thuờng là đánh dấu điểm của đầu que gẩy trên dây vào mặt đàn.

Qua nghiên cứu nhận thấy lối đánh dấu điểm gẩy của que vào dây trên mặt đàn chưa được thuận tiện và hợp lý cho lắm, vì rằng chúng ta rất nhiều kiểu cầm que dài, ngắn khác nhau cà cỡ tay lớn, nhỏ khác nhau, nên mỗi người đàn có một điểm đánh dấu để gẩy riêng khác nhau. Vì vậy sẽ có rất nhiều vạch đánh dấu điểm gẩy khác nhau trên dây vào mặt đàn.

Trong cuốn sách này ta nên thống nhất lối đánh dầu ĐIỂM CHẠM (ĐIỂM NÚT) của tay trên dây vào mặt đàn. Đánh dấu ĐIỂM CHẠM bất kể kiểu cầm que nào (dài hay ngắn), cỡ tay nào (lớn hay nhỏ), nếu ta chạm không đúng ĐIỂM CHẠM (NÚT) quy định trên dây, gẩy không bao giờ kêu, vì điểm chạm là điểm tuyệt đối. ĐIỂM NÚT của sóng đứng tạo ra âm bồi vang lên trên dây cũng là ĐẶC TÍNH CỦA ĐÀN BẦU (đàn một dây) Việt Nam.

Cách gẩy ĐÀN BẦU với các kiểu cầm que dài hay ngắn, đều thống nhất một quy tắc cơ bản của hai nguyên lý mà chúng tôi đã nói trên: "CHẠM TRƯỚC GẨY SAU".

CHẠM TRƯỚC: phần cạnh dưới của bên tay cầm que phía ngón út chạm nhẹ vào dây đúng điểm chạm (điểm nút) quy định trên dây đàn rồi que gẩy đặt vào dây.

GẨY SAU: Tay cầm que sao cho que gẩy phải là một đường thẳng xuống dây để tạo nên một góc vuông trên dây với que.

Một đầu nhọn của que được chạm vào dây nhưng không quá sâu.

Bắt đầu que gẩy được bật hất lên theo hướng vào lòng người ngồi đàn và phần tay chạm nhẹ vào dây đàn đồng thời nâng lên sau khi gẩy hất ra khỏi dây.

Như vậy, ta sẽ có một âm thanh phát ra tuyệt vời. nếu không làm đúng quy cách trên, ta gẩy dây đàn vang lên sẽ làm một âm của dây buông (âm thực) như những âm thanh phát ra ở cây đàn khác mà thôi. Gẩy sao cho âm phát ra phải là ÂM BỒI (son harmonic) như vậy mới gọi là tiếng ĐÀN BẦU.

TÓM LẠI: Điểm đánh dấu trên mặt đàn là điểm CHẠM (điểm nút). Ta gọi điểm đánh dấu ấy là điểm: “CHẠM GẨY”.

LƯU Ý: Khi ta có dụng ý, muốn tạo nên những âm sắc huyền ảo, đặc biệt thì sẽ sử dụng như:

-Lấy ngón tay bật vào dây đàn.

-Lấy que gẩy gõ lên dây.

-Vừa gẩy vừa bịt ngón tay vào dây.

-Gẩy những điểm ngoài quy định tạo ra những âm nghe kỳ lạ.

-Muốn có những âm thanh mạnh, ta kẹp chặt tqay que và gẩy mạnh.

-Khi gẩy đầu que ra khỏi dây không tay chạm lên gọi là pichigato.

Người xưa đã khuyên"

Cây đàn bầu phải gẩy ít tiếng để nắn ra nhiều chữ nhạc (nhiều tiếng), cac nhạc cụ gọi là "tiếng gió" nhất là sử dụng tiếng gảy vào trong những bài bản nhạc truyền thống ta nên nghiên cứu và thận trọng không nên tham, lạm dụng nhiều tiếng gẩy sẽ làm mất tính chất và bản sắc của cây ĐÀN BẦU

lethoai_1983
03-04-2010, 02:19 AM
bạn quê ở đâu vậy ?

lethoai_1983
03-04-2010, 02:21 AM
nếu ở hải dương vao tớ dậy cho .mĩ phí luôn.

trungkien.AUDIO
03-04-2010, 03:10 AM
NGUYÊN LÝ CỦA TAY GẨY

"(Nếu đem so sánh điểm gẩy của ĐÀN BẦU với điểm gẩy của các nhạc khí khác ta sẽ thấy:

ĐÀN BẦU có nhiều điểm gẩy hơn, mỗi điểm gẩy là một cao đọ BỒI ÂM vang lên chuẩn xác. Còn các nhạc khí khác chỉ có một điểm gẩy ở phần gần cầu dây mà thôi, và âm thanh phát ra không phải là ÂM BỒI.)"

chắc bác nhầm rồi . dây của ghita (dây kim lọai) gẩy bằng bồi âm vẫn ra mà. mà guitar e thấy nhiều người uýnh bồi âm hay lắm chứ.

VietViolin
03-04-2010, 04:32 AM
Tôi cũng nghĩ như bạn Trung Kiên.
Dây đàn của đàn bầu cũng chịu cùng một quy luật Vật Lý như dây đàn của các đàn khác.
Không có dây đàn của đàn nào lệ ngoại cả.
Có nghĩa là không đàn nào có âm bồi nhiều hơn hay ít hơn đàn khác.

Tần số âm thanh của dây tỷ lệ nghịch với chiều dài, tỷ lệ nghịch với căn bậc hai của
khối lượng (đo bằng trọng lượng) của dây, tỷ lệ thuận với căn bậc hai của sức căng của dây.

Hình dưới đây cho thấy dây bất cứ đàn nào có thể có những âm bồi:

[Link và hình ảnh đã được ẩn. Bạn cần đăng nhập hoặc đăng kí]

Những âm bồi có tần số gấp 2, 3, 4, 5, và 6 lần âm của dây đó.
Nguồn của nó ở đây: [Link và hình ảnh đã được ẩn. Bạn cần đăng nhập hoặc đăng kí]

ChangkiFung
04-04-2010, 05:50 PM
Mong là có thể giúp bạn thêm được chút gì đó
Đàn bầu ( theo Tài liệu của Võ Thanh Tùng)

Giới thiệu sơ lược: Đàn Bầu (còn gọi là Ðàn Ðộc huyền) là loại đàn một dây của dân tộc Việt và một số dân tộc khác như Mường (Tàn Máng), dân tộc Chăm (Rabap Katoh), theo sách Ðại Nam Thực Lực Tiền Biên, trang 236, quyển 11 của Nhà xuất bản Sử học- Hà Nội 1962- Ðàn Bầu được chế tạo năm 1770.

Xếp loại: Đàn Bầu là nhạc khí dây gảy loại không có dọc (cần đàn), do người Việt Nam sáng tạo ra. Ðàn Bầu là nhạc khí phổ biến tại Việt Nam.

Hình thức cấu tạo: Có hai loại Ðàn Xẩm và Ðàn Bầu chuyên nghiệp, theo GSTS.Tô Ngọc Thanh. Ðàn Xẩm là loại đàn chỉ gồm một nửa ống tre bổ dọc, một cọc nắn âm và không có bầu, đánh bồi âm(không đánh thực âm). Ðàn Bầu chuyên nghiệp được cấu tạo như sau:

Thân đàn:Ðàn Bầu hình hộp dài, đầu đàn hơi cao và thuôn hẹp hơn cuối đàn. Mặt đàn bằng gỗ hơi phồng lên, chung quanh thành đàn làm bằng gỗ cứng. Ðáy kín nhưng có khoét lỗ vuông ở cuối đàn, dùng để mắc dây và thoát âm.

Vòi đàn(cần đàn): Phía đầu đàn có một cọc tre cắm từ mặt đàn xuống đáy gọi là vòi đàn. Ðầu vòi đàn nhỏ dần và uốn cong tròn về phía trái ngoài đầu đàn. Có người vót sừng trâu làm vòi đàn. Trước khi cắm vòi đàn vào mặt đàn, người ta cho nó xuyên ngang qua bầu cộng hưởng.

Bầu cộng hưởng: Ðàn Bầu là một vỏ cứng của quả bầu, có nơi thay bằng gáo dừa và ngày nay bầu cộng hưởng được làm bằng gỗ. Một sợi dây có độ đàn hồi tốt căng từ đầu của hộp đàn kéo dài tới cần (vòi) đàn chỗ cắm qua vỏ bầu cộng hưởng. Từ nơi mắc dây đến vòi đàn tạo góc 30o. Như vậy là đầu dây mắc chéo xuống chứ không song song với thân đàn như một số nhạc cụ, đặc biệt đàn chỉ duy nhất một dây và không có các phím. Ðàn Bầu điện có gắn thêm một bộ phận cảm âm điện tử, nối liền với bộ phận khuyếch đại của máy tăng âm và loa

Dây đàn: Dây kim khí mắc từ trục lên dây, chui qua một lỗ nhỏ ở cuối mặt đàn, kéo chếch lên buộc vào vòi đàn, chỗ miệng loe của bầu cộng hưởng.

Bộ phận lên dây: Một trục gỗ xuyên ngang hai bên thành đàn (ở phía cuối thân đàn) gắn một bộ phận lên dây bằng kim loại để mắc dây và lên dây. Bộ phận lên dây được cải tiến để dây không bị chùng xuống.

Que gảy đàn: Là một cái que nhỏ, ngắn và nhỏ hơn chiếc đũa, đầu vót nhọn hoặc hơi tròn tùy yêu cầu biểu diễn. Que gảy đàn trước đây làm bằng tre, nay làm bằng cây Giang (họ tre mây). Nếu que gảy cứng quá hay bị vấp, còn mềm quá thì dễ gãy. Que gảy ngắn: tiếng mềm mại, trữ tình khi Tremolo ở một bậc cao hay trên cùng một phím thì tiếng đàn nét rõ hơn. Que gảy dài: tiếng thô nhưng khỏe và chắc, đầy đặn.

Bộ phận khuyếch đại: Bầu cộng hưởng sau này của Ðàn Bầu được thay thế bằng gỗ chứ không bằng ống bương và vỏ quả bầu khô như trước. Một bộ phận cảm âm điện tử (Bobine électronique) được đặt trong đàn, gần chỗ mắc bộ phận lên dây, từ bộ phận cảm âm này sau đó được nối liền vào bộ phận khuyếch đại âm thanh điện tử (máy tăng âm và loa) để phát ra tiếng Ðàn Bầu.

Các điểm nút trên đàn Bầu: Ðàn Bầu không có phím nên điểm nút được coi như cung phím của Ðàn Bầu. Chiều dài của dây đàn là đoạn AB, điểm O ở chính giữa. Nếu lên dây đàn theo giọng Ðô thì khi gảy và chạm tay vào điểm O này (điểm nút) âm thanh phát ra sẽ là âm Ðô1 lần lượt từ O đến A ta có:

* Ðiểm nút 1 (AB/3) âm bội là Sol 1

* Ðiểm nút 2 (AB/4) âm bội là Ðô 2

* Ðiểm nút 3 và 3' (AB/5) âm bội là Mi 2

* Ðiểm nút 4 (AB/6) âm bội là Sol2

* Ðiểm nút 5 (AB/7) âm bội là Sib2

* Ðiểm nút 6 (AB/8) âm bội là Ðô3

Có thể đánh vào điểm nút 7 (AB/9) có âm bội Rê, điểm nút 8 (AB/10) để có âm bội Mi.....Nhưng không cần thiết vì đánh vào những nút đó, tay dễ bị vướng vào loa bầu, nghệ nhân có thể đánh vào điểm nút 6 rồi uốn căng vòi đàn để đạt những âm cao hơn âm bội ở điểm nút 6. Từ O đến B cũng có các điểm nút lần lượt đối xứng với các điểm nút từ O đến A nhưng ít khi dùng tới.

Tầm âm: Ðàn Bầu rộng 5 quãng tám từ La-2 đến Sol3 (a-2 đến g3), sử dụng âm bồi nên màu âm của Ðàn Bầu ngọt ngào, quyến rũ. Âm lượng của Ðàn bầu nhỏ để phục vụ được nhiều người, người ta đã khuyếch đại âm thanh bằng cách điện tử hóa và đã đạt được thành công là âm thanh Ðàn Bầu vang to mà vẫn giữ được màu âm độc đáo.

Tính chất âm thanh và hệ thống định âm của Ðàn Bầu: Cùng trên cây Ðàn Bầu, không phải chỉ có một lối phát âm như các nhạc cụ khác mà có 2 lối phát âm đó là: thực âm và bội âm như sau:

Phương pháp cấu tạo âm thanh đã có ngay từ đầu khi sáng chế ra cây đàn, khi vòi đàn ở vị trí tự nhiên, tay phải ta gảy que chạm vào dây ở bất cứ điểm nào trên dây, âm thanh được phát ra chính là âm thanh mà ta đã định ban đầu khi mắc dây và lên dây. Sau đó cũng như vậy ta thay đổi các vị trí của vòi đàn, nắn vòi rồi gảy dây tại bất kỳ điểm nào thì ta lại được các cao độ khác nhau tương ứng với vị trí của vòi đàn (hay độ căng giãn của dây đàn). Như vậy cao độ của âm thanh chỉ thay đổi khi thay đổi vị trí vòi đàn và vị trí gảy dây đàn mà không hề ảnh hưởng tới âm thanh phát ra, phương pháp cấu tạo âm thanh thực âm không tận dụng được các vị trí khác nhau trên dây đàn để tạo ra các cao độ khác nhau nên có phương pháp tạo âm thanh là bồi âm.

Bồi âm: Người biểu diễn dùng tay mặt tì nhẹ vào một điểm quy định nào đó (những điểm nút của dây) rồi gảy nhẹ vào dây, khi dây phát ra âm thanh thì tay phải kịp thời nhấc lên, âm thanh phát ra là bồi âm. Cứ lần lượt như vậy nghệ sĩ biểu diễn sẽ gảy các vị trí quy định khác nhau trên dây và được các cao độ khác nhau theo quy luật nhất định của luật âm thanh là bồi âm, và tiếp tục sử dụng tay trái thay đổi vị trí của vòi (cần đàn) ta được cả một hệ thống âm thanh đó là âm vực của Ðàn Bầu.

Âm bồi thứ hai : Các nghệ nhân đã tạo ra âm bội thứ hai mà không gảy đàn thêm cũng không uốn vòi đàn. Gảy vào một điểm nút nào đó, âm thanh phát ra, khi tiếng đàn còn ngân nghệ nhân dùng cạnh bàn tay đưa nhanh chạm nhẹ vào điểm nút khác để có được âm dự định rồi nhấc tay ra ngay. Màu âm của tiếng đàn thứ hai này trong sáng, bay nhưng hơi mảnh, gây cảm giác bâng khuâng, xa xôi.

Cách ghi âm bồi thứ hai : Trước hết ghi nốt nhạc phải gảy với độ ngân quy định, tiếp theo dùng dấu luyến bắt sang một nốt khác, nốt này là âm bội thứ hai (cũng cần ghi theo độ ngân quy định). Trên đầu nốt nhạc có một dấu tròn nhỏ.

Kỹ thuật diễn tấu:

Ngồi: đàn được đặt trên giá cao ngang tầm tay, người đàn ngồi trên ghế.

Ðứng: đàn được đặt trên giá cao và nghệ nhân đàn với tư thế đứng

Kỹ thuật tay phải:Tay phải hơi khum lại, ngón trỏ và ngón cái khép lại và kẹp một chiếc que gảy. Khi gảy bàn tay mở ngược lên, lòng tay hướng lên trên, cạnh bàn tay tì nhẹ lên dây đàn đúng vào vị trí các phím đàn. Sau khi gảy dây: bằng sự va chạm giữa dây đàn và que gảy sẽ tạo nên một âm thanh, ngay khi đó bàn tay phải nhanh chóng nhấc ngay lên. Vị trí nốt trên Ðàn Bầu có thể được đánh dấu nhưng vì dây đàn được mắc cao hơn thân đàn và chéo góc nên độ chính xác không bằng các đàn có ngăn phím hẳn hoi. Như vậy người nghệ sĩ Ðàn Bầu phải kết hợp cả mắt và tai nghe nữa, nhất là khi diễn tấu tác phẩm có tốc độ nhanh thì nhất thiết phải có sự kết hợp hài hòa và chính xác. Một điều nữa tay phải còn phải điều chỉnh độ mạnh, nhẹ, âm thanh cứng hay mềm (đó là sự điều tiết cường độ và sắc thái của tiếng đàn)

Gảy âm tự nhiên: Cách đàn không sử dụng âm bồi, nghệ nhân khi gảy vào dây (ở bất cứ điểm nào trên dây mà muốn cho âm thanh không bị rè, ta nên gảy sát về phía quả Bầu) đồng thời tay trái uốn cong vòi đàn (động tác nhanh, dứt khoát, chính xác tiếng đàn mới đẹp, tránh âm thanh kêu nhõng nhẽo) để có âm thanh như ý muốn

Ngón vê: Là kỹ thuật gảy hai chiều (hất lên và gảy xuống) bằng que gảy, thường thực hiện ở những âm ngân dài, Vê diễn tả tình cảm vui tươi, phấn khởi.

Kỹ thuật tay trái: Tất cả kỹ xảo của bàn tay trái chủ yếu dồn vào sử dụng sao cho thật khéo léo và nhuần nhuyễn chiếc cần đàn (vòi đàn), tay trái định âm bằng kỹ thuật sử dụng vòi đàn (cần đàn) làm cho dây đàn chùng xuống hay căng lên theo ý muốn.

Ngón luyến: Khi gảy xong một tiếng đàn, không gảy thêm mà dùng bàn tay trái kéo vòi đàn (cần đàn) lên hoặc xuống tạo ra các nốt khác nhau gọi là luyến.

Ngón nhấn: Khi gảy một tiếng đàn, đồng thời cùng một lúc dùng bàn tay trái chủ yếu là ngón tay cái và ngón trỏ ép sao cho cần đàn từ vị trí bình thường đổ ra (nhấn ra theo hướng tay trái) với mục đích làm căng dây đàn tới mức độ nhất định để tạo ra các âm cao độ khác theo ý muốn hoặc không có ở phím đàn trên dây. Ngón nhấn sử dụng trên đàn để định âm các quãng 2 thứ, quãng 2 Trưởng, quãng 3 Trưởng, quãng 3 thứ, quãng 4 đúng so với nốt cố định của điểm đàn (khi nhấn ra chỉ đến quãng 4).

Ngón chùng:(nhấn vào) ngược lại ngón nhấn là ngón chùng, là khi gảy xong một tiếng đàn, dùng bàn tay trái, chủ yếu là lực ngón trỏ và các ngón khác uốn vòi (cần đàn) nhấn vào theo hướng tay mặt cho dây chùng lại với mục đích tạo những âm có cao độ thấp hơn âm vừa gảy mà không thực hiện bằng điểm nút. Ví dụ gảy âm Sol1 ở điểm nút 1 rồi muốn có âm thấp hơn là Fa1, Mi1, Rê1 : nghệ nhân uốn vòi đàn cho chùng dây xuống để các âm đó vang lên. Ðây là điểm độc đáo nhất chỉ có ở Ðàn Bầu và Ðàn Ðáy là có thể tạo ra được các âm có cao độ thấp hơn so với âm trên phím đàn tạo ra, ngay các nhạc cụ cổ điển và hiện đại quốc tế cũng ít có trường hợp này. Nghệ nhân có thể đánh ngón chùng xuống 3. 4 cung. Ngón chùng sử dụng trên các Ðàn Bầu có vòi đàn và dây đàn có sức đàn hồi tốt, có thể đánh được từ quãng 8 trở lại, nhưng đa số là chùng xuống quãng 5 so với nốt trên phím.

Ngón rung:Là khi tay phải gảy dây, các ngón tay trái rung nhẹ với vòi đàn, làm âm thanh phát ra như làn sóng cao thấp hơn âm chính một chút không đáng kể. Kỹ thuật ngón rung là sử dụng cả ngón nhấn và chùng trên vòi (cần đàn) với tốc độ rất nhanh (có thể tạo hiệu quả tương đối giống như "vibrato" của các nhạc cụ dây khác). Rung làm tiếng đàn ấm áp, mềm mại, đầy đặn và tùy loại rung mà tạo ra phong cách diễn tấu các Hơi Bắc, Hơi Nam...Ngón rung thường chỉ nhấn và chùng quãng 2 (ít khi quãng 3) so với nốt chính được tạo ra ở trên phím đàn (nốt chính phải có độ ngân tương đối dài).

Ngón giật: Sau khi gảy một âm, sử dụng kỹ thuật nhấn nhanh làm âm thanh thứ hai phát ra đột ngột, gây ấn tượng khẩn trương, sửng sốt, thường giật từ âm thấp lên âm cao.

Ngón vỗ: Còn gọi là đập, dùng ngón tay trái đập nhẹ, nhanh và dứt khoát vào vòi đàn làm âm thanh phát ra đứt đoạn nghe như những tiếng nấc, có thể vỗ vào 3 lần trên một âm, thường là những âm ngân dài để diễn tả tình cảm đau khổ, uất ức, nghẹn ngào. Ngón vỗ chỉ sử dụng âm thanh ở điểm nút O, như vậy ngón tay mới rảnh để vỗ.

Vị trí Ðàn Bầu trong các Dàn nhạc: Người Việt thường sử dụng Ðàn Bầu để độc tấu, đệm cho ngâm thơ, tham gia trong Ban nhạc Tài Tử, Ban nhạc Xẩm. Gần đây Ðàn Bầu tham gia trong Dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp, Dàn nhạc Giao hưởng Dân tộc, Dàn nhạc Sân khấu Chèo, Cải Lương. Ðặc biệt đã có những tác phẩm viết cho Ðàn Bầu độc tấu cùng Dàn nhạc Giao hưởng.

Châu Á cũng có nhiều nhạc khí khác cùng một dây như Nhật Bản có đàn một dây gọi là Ichigenkin khi đánh dùng bloc chặn trên dây tạo âm cao thấp. Trung Quốc có Ðàn Ixian qin (Nhất huyền cầm) một dây dùng ngón của tay trái nhấn lên dây, ở Ấn Ðộ có Ðàn Gopiyantra và ở Campuchia có Ðàn Sadev. Tất cả các nhạc khí trên đều dùng thực âm, riêng Ðàn Bầu Việt Nam chuyên dùng bồi âm. Ðàn Bầu chỉ một dây mà phải gảy ngay nút giao động để tạo ra bồi âm rồi nhờ vòi (cần đàn) mà làm cho độ cao của bồi âm thay đổi. Khác hẳn Ixian qin (Nhất huyền cầm) của Trung Quốc hay Ichigenkin của Nhật, cũng một dây như Ðàn Bầu mà cách đàn khác, tay trái nhấn lên dây, làm cho khúc dây giao động ngắn dài để tạo ra giọng cao thấp của tiếng đàn, khác với Ðàn Sadew của Campuchia cũng một dây mà không dùng bồi âm.

VietViolin
04-04-2010, 07:54 PM
Bài của Võ Thanh Tùng sai nhiều lắm, nhưng ai đã từng chơi đàn bầu rồi thì thấy ngay chỗ sai .
Ở đây, tôi chỉ trích nguyên văn chỗ sai nhất cho các bạn chưa từng chơi đàn bầu thôi:

Trích: "Phương pháp cấu tạo âm thanh đã có ngay từ đầu khi sáng chế ra cây đàn,
khi vòi đàn ở vị trí tự nhiên, tay phải ta gảy que chạm vào dây ở bất cứ điểm nào trên dây,
âm thanh được phát ra chính là âm thanh mà ta đã định ban đầu khi mắc dây và lên dây.
Sau đó cũng như vậy ta thay đổi các vị trí của vòi đàn, nắn vòi rồi gảy dây tại bất kỳ
điểm nào thì ta lại được các cao độ khác nhau tương ứng với vị trí của vòi đàn (hay độ
căng giãn của dây đàn). Như vậy cao độ của âm thanh chỉ thay đổi khi thay đổi vị trí
vòi đàn và vị trí gảy dây đàn mà không hề ảnh hưởng tới âm thanh phát ra, phương pháp
cấu tạo âm thanh thực âm không tận dụng được các vị trí khác nhau trên dây đàn để
tạo ra các cao độ khác nhau nên có phương pháp tạo âm thanh là bồi âm."

Không ai thay đổi vị trí vòi đàn cả. Sau khi làm xong đàn bầu, dù tốt dù xấu, người
chơi đàn bắt buộc phải chơi như thế, không thể mỗi một nốt nhạc gảy xong thì lại tháo
đàn ra mà lắp lại vòi đàn.

Thứ hai, nếu gảy đàn bầu kiểu này, thì mặc dù gảy ở chỗ nào trên giây đàn, cũng chỉ
phát ra đúng một nốt thôi . Đó là nốt của giây buông . Bạn có thể thử trên Guitar,
Violin, Cello, Contra Bass, sẽ thấy điều đó . Bài tôi trích ở trên cũng cho thấy điều đó .

Còn cách gảy đàn bầu, thì luôn luôn phải gảy âm bồi, mà tác giả không biết kể cách
gảy đó ra sao. Gảy đàn bầu như sau: bàn tay phải quay về phía bầu, có nghĩa là nếu
tay phải nắn vòi, thì tay trái gảy, nếu tay trái nắn vòi thì gảy bằng tay phải, 2 tay quay
vào nhau thì chơi được. Tay gảy (tay phải hay tay trái) nắm lấy que gảy sao cho ngón
cái ở trên, ngón út ở dưới, đầu que gảy thò ra khỏi cườm tay chừng 1 centimet, sao
cho đầu que gảy mà gảy được dây, thì cườm tay cũng chạm vào dây đàn. Nơi cườm
tay chạm vào dây đàn là nơi quyết định độ cao của tiếng đàn phát ra . Hỏi một người
chơi Guitar coi họ chơi âm bồi thế nào, thì tay trái khẽ chạm vào dây (không để dây
chạm xuống phím trên cần đàn), tay phải vẫn gảy như thường (ở lỗ đàn, hay trên cần
đàn chỗ nào cũng được) . Guitar có lợi thế khi chơi âm bồi, vì tay gảy không phải là
tay bấm, trong khi đó tay gảy đàn bầu cũng là tay nhấn nốt luôn, không thể chạy ra
xa khỏi điểm nhấn trên dây. Điều đó hạn chế âm sắc và cường độ của tiếng đàn .

Còn nhiều chỗ sai nữa, nhưng không mấy lớn, chỉ có ai chơi đàn bầu mới cần bàn đến.

ChangkiFung
09-04-2010, 04:52 PM
Nhân có reply của chú cháu cũng xin có vài lời bổ sung ạ:
- Về vị trí của vòi đàn thì khi chế tạo tất nhiên là phải cố định một điểm, theo cháu hiểu thì đoạn trên của tác giả muốn nói 'thay đồi vị trí của vòi đàn" ở đây chính là khi ta rung vòi đàn khỏi vị trí ban đầu chú ạ, khi đó tất nhiên âm phát ra sẽ có cao độ thay đổi.
- Về cách gảy khi biểu diễn bây giờ tất cả đều sử dụng lối gảy âm bồi, tuy nhiên như chú nói thì không phải đàn bầu thuần túy giống như guitar, gảy ở bất kỳ vị trí nào trên dây buông thì đều cho âm thanh giống nhau đâu ạ, đàn bầu thuần túy hồi xưa do ông nội cháu làm cháu đã tận tay thử, (tức là dùng vỏ quả bầu - cũng có khi ông cháu dùng lon của hộp sữa - làm ống cộng hưởng) khi buông dây mà ta gảy vào các vị trí khác nhau thì âm phát ra là khác nhau, còn chỉ có đàn bầu dùng cộng hưởng bằng ampli thì nếu chưa bật ampli thì có gảy chỗ nào cũng chỉ phát ra tiếng pang pang thôi.
Ngoài ra thì khi chơi guitar cũng có khi người ra sử dụng kỹ thuật âm bội bằng một tay (gảy bằng ngón trỏ và chặn dây bằng ngón áp út tay phải)
Đây là tài liệu cổ do tài liệu về nhạc cụ dân tộc ở VN vẫn còn khá hiếm và ít nên cũng không tránh khỏi những hạn chế về ngôn từ và kỹ thuật, mong rằng bạn có thể tham khảo được ít nhiều.

VietViolin
10-04-2010, 05:49 AM
Bạn sai rồi .
Đàn bầu hay bất cứ đàn có dây nào, hay bất cứ một sợi dây nào căng đến mức
kêu ra được tiếng đều theo cùng một quy luật vật lý .
Bạn không thể nói đàn bầu gảy khác được .
Nếu gảy không âm bồi, thì gảy chỗ nào cũng ra cùng chỉ 1 âm 1 độ cao mà thôi.
Người viết đã không hiểu, mà chỉ học lại không đến nơi đến chốn, nên mới viết
sai . Nếu người viết tự tay gảy thì hiểu ngay, không thể nào viết sai được .
Có lẽ bạn cũng chưa gảy bao giờ, chưa học vật lý, và chỉ biết tin vào 1 nguồn
nên mới xảy ra như vậy . Tốt nhất, bạn thử gảy âm bồi trên Guitar (nếu không có
đàn bầu) coi xem ra sao .

Bật amply hay không, chẳng ảnh hưởng gì đến âm thật và âm bồi cả .
Amply không thể tác động lên quy luật rung của dây căng, mà chính dây
mới ảnh hưởng đến Amply.

Đây cũng là bài học chung cho chúng ta khi tìm hiểu khoa học .
Phải bắt tay làm thí nghiệm, hơn là theo thuyết A, thuyết B, thuyết C .
Đời có nhiều thuyết lắm, nhưng sự thật chỉ có 1 thôi .

lienhuongdoan
29-09-2012, 12:28 AM
Nếu bạn ổ Tp HCM thì bạn có thể đến học đàn bầu với Cô Vân Anh ,nghệ sĩ đàn bầu nổi tiếng,bạn có thể liên hệ số điện thoại 0862733199 .Tôi cũng là 1 học của Cô ,Co dạy rất hay và nhiệt tình